Các xét nghiệm hoá sinh về bệnh Tiểu đường

Các xét nghiệm hoá sinh về bệnh tiểu đường
Vì lí do bản quyền nên các tài liệu hạn chế sự chia sẻ. Vì sự bất tiện này rất mong được sự cảm thông và chia sẻ của quý độc giả! Các bạn vui lòng tìm kiếm và xem tài liệu trực tiếp ở mục Ebooks

WHO đã định nghĩa: Bệnh tiểu đường (Đái tháo đường) là bệnh mà chắc chắn đường máu lúc đói lớn hơn 7,0 mmol/l (126 mg/dl), khi xét nghiệm đường máu hơn 2 lần hoặc định lượng đường máu ở bất kỳ thời điểm nào cũng lớn hơn 11 mmol/l.

Để xác định bệnh tiểu đường, người ta thường làm một số xét nghiệm sau:

1. Định lượng glucose máu

Bình thường: nồng độ glucose máu người khoẻ mạnh, lúc đói là: 4,4 – 6,1 mmol/l (0,8- 1,1 g/l).

Trước kia, định lượng đường máu theo phương pháp Folin-Wu là phương pháp định lượng không đặc hiệu dựa vào tính khử của đường cho nên khi trong máu bệnh nhân có các chất khử khác (ví dụ vitamin C) nó sẽ tạo nên kết quả cao hơn nồng độ đường thực có.

Hiện nay, định lượng đường máu đặc hiệu là phương pháp enzym-màu. Đó là phương pháp định lượng đường máu dựa trên phản ứng xúc tác của gluco-oxidase: oxy hóa glucose thành acid gluconic và peroxidhydrogen (H2O2). H2O2 tác dụng với 4-aminoantipyrine và phenol dưới xúc tác của peroxidase (POD) tạo thành chất có màu hồng là quinoneimine và nước. Đo mật độ quang của đỏ quinoneimine ở bước sóng 500nm sẽ tính được kết quả đường máu.

Bằng phường pháp enzym, kết quả đường máu chính xác hơn, không phụ thuộc vào các chất khử
có trong máu như phương pháp kinh điển (Folin-Wu) nên kết quả thường thấp hơn một chút so
với phương pháp Folin-Wu.

2. Phát hiện đường niệu và ceton niệu

Khi làm xét nghiệm 10 thông số nước tiểu, kết quả cho thấy:
Bình thường:
– Glucose niệu (-).
– Ceton niệu (-).
– pH nước tiểu bình thường ở giới hạn từ 5- 8.

Nội dung chi tiết các xét nghiệm sinh hóa về bệnh tiểu đường xem trực tiếp và tải tại đây: